Trầm cảm và những hậu quả nặng nề với phòng the

10:43 |
Trầm cảm là căn bệnh thời đại đang phát triển nhanh trong những năm gần đây. Một trong những ảnh hưởng không tốt của trầm cảm lên sức khỏe là vấn đề rối loạn chức năng hoạt động tình dục. 

Trầm cảm và suy giảm tình dục 

Trầm cảm là một loại rối loạn cảm xúc, tác động đến khí sắc, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tình cảm, nhận thức, rối loạn thần kinh thực vật và tâm thần vận động của người bệnh... Bệnh có tỷ lệ mắc cao, những yếu tố thúc đẩy bệnh hoặc tái phát bệnh thường là những sang chấn tâm lý trong cuộc sống như: tai nạn bất ngờ, mất mát người thân, đổ vỡ các mối quan hệ tình cảm, làm ăn thua lỗ... 


Bệnh này dẫn đến giảm khả năng về mặt xã hội của con người như: học tập, giao tiếp, công việc... Về mặt cảm xúc, người trầm cảm hay buồn bã, ủ rũ, chán chường, lo lắng, đau khổ, sợ hãi, hoài nghi... Về mặt tâm trí, các chức năng nhận thức ở người trầm cảm bị trì trệ, ức chế, nhất là mức độ chú ý, tiếp thu, tư duy trí nhớ, khả năng thích nghi. 

Những biến đổi cảm xúc và rối loạn tâm trí đó thường đi đôi với những rối loạn chức năng của nhiều cơ quan nội tạng khác nhau thể hiện dưới dạng đau đầu, mất ngủ, đau ngực, đau vùng trước tim, rối loạn nhịp tim, đau cơ xương khớp, huyết áp thất thường... và đặc biệt là rối loạn và suy giảm tình dục. 

Rối loạn tình dục là một triệu chứng thường thấy ở cả nam và nữ khi mắc chứng trầm cảm. Có thể phân ra 3 loại rối loạn gồm: suy giảm ham muốn, rối loạn cương và rối loạn xuất tinh. Bệnh nhân trầm cảm thường giảm mạnh các hứng thú và đam mê, trong đó có nhu cầu tình dục. 

Họ thường than phiền rằng đã mất hết các sở thích vốn có trước đây. Họ không còn ham muốn tình dục, nhiều khi hàng tháng không muốn quan hệ với vợ, chồng (hoặc bạn tình). Hoặc có quan hệ cũng là do chiều chồng (vợ) chứ bản thân không thấy hứng. Bên cạnh đó, người bệnh thường có cảm giác mệt mỏi nên luôn tìm cách từ chối quan hệ tình dục. Dần dần họ lâm vào tình trạng mệt mỏi hơn. Họ thường viện cớ công việc, sức khỏe... để thoái thác. 

Bệnh nhân trầm cảm luôn trong tình trạng buồn rầu vô cớ, nét mặt ủ rũ, tâm trạng u uất, không thể vui được (dù có các tác động bên ngoài). Chính vì cảm giác buồn bã này mà họ không muốn quan hệ tình dục. Với họ, đời sống tình dục là một khái niệm gần như không tồn tại. 

Thuốc trầm cảm ảnh hưởng xấu đến tình dục 

Thuốc chống trầm cảm đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị trầm cảm. Bệnh nhân phải uống thuốc liên tục trong thời gian dài (tối thiểu 1 năm), thậm chí suốt đời. Thuốc chống trầm cảm 3 vòng, đa vòng, ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin... đều ảnh hưởng xấu đến đời sống tình dục của bệnh nhân ở các mức độ khác nhau. 

Bệnh nhân nam thường than phiền khó cương dương vật, giảm ham muốn, khó xuất tinh. Bệnh nhân nữ thì mất hết ham muốn, âm đạo khô hơn, do vậy thường gây đau, rát và khó khăn trong quan hệ tình dục. Các thuốc ảnh hưởng đến chức năng tình dục nhiều nhất là amitriptylin và fluoxetin. Nhưng đây lại là hai thuốc chống trầm cảm có hiệu quả điều trị rất cao, giá thành rẻ, dễ sử dụng nên hay được các bác sĩ chỉ định. 


Để hạn chế ảnh hưởng và tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm đến đời sống tình dục, các bác sĩ chuyên khoa sẽ cho bệnh nhân dùng kết hợp thuốc chống trầm cảm với các thuốc arcalion, piracetam hoặc ginko biloba... Trong một vài trường hợp điển hình, bác sĩ thường khuyên bệnh nhân đổi thuốc (nếu có thể). Các thuốc thay thế như stablon, luvox hoặc mirtazapin ít ảnh hưởng đến tình dục. 

Một giải pháp khác là loại bỏ các thuốc an thần, thuốc chỉnh khí sắc, vì chính các thuốc này ảnh hưởng xấu đến chức năng tình dục của bệnh nhân. 

Lời khuyên của thầy thuốc 

Trong điều trị bệnh trầm cảm và các rối loạn tình dục, vai trò của người bệnh rất quan trọng với tình trạng bệnh của mình. Để trị được bệnh trầm cảm, bạn cần thực hiện những việc sau: Tránh cảm giác chán đời, nên cố gắng đừng để cho mình quá rảnh rỗi, năng tham gia việc gia chánh hoặc học thêm... 

Nên đi chơi, đến quán cà phê, giải trí với bạn bè bằng loại hình nghệ thuật mà mình chưa chán. Đừng bỏ qua cơ hội và nên cố gắng thu xếp tham dự những hoạt động tập thể để tiếp xúc với đồng nghiệp, tạo niềm vui mới... Trong sinh hoạt cộng đồng, bạn sẽ thấy mình có ích cho người khác, được người khác quý mến. 

Mỗi ngày hãy tạo cho bản thân và người nhà một niềm vui nho nhỏ: Mua vé đi xem phim, tặng một cuốn sách mới, nấu món ăn mới... Hãy thường xuyên tập luyện thể dục, có chế độ ăn uống hợp lý. Sử dụng đồ ăn giàu vitamin và các chất chống ôxy hóa, tránh chế độ ăn nghèo calo, đồ béo, đồ ngọt, không uống rượu, bia và cà phê đặc... 

Theo các bác sĩ, mỗi người nên cố gắng có một cuộc sống cân bằng, vui vẻ và hài hòa để sức khỏe tinh thần và thể chất luôn dồi dào. Có như vậy, những căn bệnh như stress, trầm cảm, rối loạn tình dục... mới không tấn công chúng ta được. 


BS. Tâm Anh
Click đọc ngay…

Rối loạn tiền đình, nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

10:09 |
Hệ thống tiền đình có vai trò quan trọng trong việc giữ thăng bằng, duy trì tư thế, phối hợp các cử động của mắt, đầu, thân mình. Khi bị rối loạn tiền đình (RLTĐ) sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. 

Rối loạn tiền đình là gì? 

Khả năng giữ thăng bằng cơ thể tùy thuộc vào các cảm giác đến từ ba vùng chính: mắt, tai trong và các thớ thịt, khớp xương (cảm giác sâu). 


Bộ phận mê đạo và tiền đình ở tai trong có trách nhiệm cung cấp tín hiệu cho não bộ các cảm giác về tư thế và các chuyển động của cơ thể được các bộ phận này ghi nhận. Sau đó não bộ tiếp nhận, phân tích, phối hợp các tín hiệu này để giữ vững cơ thể. Khi não bộ không bắt được các tín hiệu này hoặc các tín hiệu không rõ rệt, trái ngược nhau thì ta sẽ bị mất thăng bằng. 

Rối loạn tiền đình là bệnh lý gây ra một trạng thái mất cân bằng về tư thế làm cho người bệnh thường xuyên bị chóng mặt, quay cuồng, hoa mắt, ù tai, buồn nôn, đi đứng lảo đảo... gây khó chịu. Bệnh rất hay tái phát, từ đó làm ảnh hưởng đến công việc, nhất là ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống. 

Say sóng khi đi tàu, chóng mặt khi ngồi xe là do cơ chế này. Ngồi trong máy bay, khi gặp gió bão, máy bay chòng chành, tuy ta không nhìn thấy được sự thay đổi bên ngoài, nhưng bộ phận tai trong tiếp nhận được sự dao động, ta cảm thấy choáng váng, xây xẩm mặt mày… 

Nguyên nhân và triệu chứng rối loạn tiền đình

Rối loạn tiền đình không phải là một bệnh mà là một hội chứng, báo hiệu nguy cơ của một bệnh lý nào đó với các biểu hiện như mất thăng bằng, buồn nôn, nôn, chóng mặt. Thường thì bệnh nhân mô tả chung chung, mơ hồ về mức độ nặng, nhẹ, thời gian mắc bệnh... 

Một số than phiền thường gặp là mất thăng bằng, đi không vững, cảm giác chóng mặt, mọi vật chung quanh đang quay hay di động; đầu lâng lâng, muốn ngã, xỉu, yếu, mệt, kém tập trung; mắt mờ khi quay cổ hay cử động đầu, buồn nôn, ói mửa… Các triệu chứng bất thường trong thời gian ngắn hoặc lâu hơn. 

Dựa vào vị trí tổn thương của hệ tiền đình, người ta chia làm hai loại: RLTĐ (hội chứng tiền đình) ngoại biên và trung ương. 

Hội chứng tiền đình ngoại biên: Do tổn thương tai trong hay thần kinh số VIII, xuất phát từ các nguyên nhân như: viêm tai xương chũm mạn tính, do dùng các thuốc có độc tính gây tổn thương tiền đình như thuốc kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid, thuốc lợi tiểu, thuốc giảm đau, rượu... 

Thường gặp với biểu hiện như chóng mặt khi thay đổi tư thế. Đây là dạng bệnh lành tính, chỉ làm cho người bệnh khó chịu trong sinh hoạt nhưng vẫn còn đi đứng được. Cơn chóng mặt thường thoáng qua chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn, chúng xuất hiện khi thay đổi tư thế như lắc đầu, từ tư thế nằm chuyển sang ngồi. Bệnh thường xảy ra sau chấn thương vùng đầu. 

Ngoài ra bệnh lý thoái hóa cột sống cổ gây cản trở mạch máu ở hệ đốt sống thân nền cũng là nguyên nhân gây nên RLTĐ ngoại biên. RLTĐ ngoại biên còn có thể có biểu hiện tình trạng chóng mặt nặng và kéo dài, người bệnh không thể đi đứng được, không thể thay đổi tư thế từ nằm sang ngồi. 

Đặc biệt cơn chóng mặt thường kèm theo nôn ói rất nhiều và nôn kéo dài, ù tai, giảm thính lực một hoặc cả hai bên tai. Người bệnh còn có thể kèm theo tình trạng nặng đầu, khó tập trung, choáng váng, hồi hộp, sợ ánh sáng... 


Hội chứng tiền đình trung ương: Do tổn thương các nhân tiền đình hay các đường liên hệ của nhân này trong thân não. Đây là bệnh lý thường gặp nhất với những biểu hiện của tình trạng thiểu năng tuần hoàn não. Người bệnh đi đứng khó khăn. Khi thay đổi tư thế người bệnh bị choáng váng, chóng mặt, đôi khi khó tập trung, mau quên, thỉnh thoảng kèm theo nôn ói. 

Hội chứng tiền đình trung ương là do có sự tổn thương nhân tiền đình, tổn thương đường liên hệ của các nhân dây tiền đình ở thân não, tiểu não. Nguyên nhân có thể là do động mạch mang máu đến nuôi não bộ bị thiểu năng bởi tình trạng xơ mỡ động mạch, hạ huyết áp tư thế, thoái hoá cột sống cổ làm chèn ép mạch máu… 

Khi có những triệu chứng như chóng mặt, ù tai, đi đứng không vững, nghi ngờ bệnh lý RLTĐ, người bệnh cần đến các cơ sở y tế để được khám và xác định chính xác nguyên nhân để từ đó có hướng chữa trị thích hợp, và càng sớm càng tốt. 

Ai dễ mắc bệnh? 

Rối loạn tiền đình rất dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, những người ngồi nhiều trong phòng lạnh và tiếp xúc thường xuyên với máy vi tính. Vì ngồi nhiều trong phòng lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh dễ làm co cứng các cơ cạnh đốt sống cổ, gây chèn ép các mạch đốt sống, dẫn đến tình trạng thiếu máu nuôi vùng não bộ gây ra bệnh rối loạn tiền đình. 

Đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát. Do đó, để phòng ngừa bệnh rối loạn tiền đình, tránh tái phát bệnh chúng ta cần tránh ngồi nhiều trong phòng lạnh, tránh ngồi lâu trước máy vi tính, không nên ngồi lâu khi làm việc văn phòng. Ngoài ra, người làm việc trong môi trường ồn ào, áp lực trong công việc, cuộc sống... nhất là những người phải làm việc một chỗ, không gian kín, ít di chuyển, ít vận động. 

Các bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ nặng chèn ép động mạch đốt sống gây thiếu máu vận chuyển nuôi vùng não thuộc hệ sống nền như thân não, tiểu não, dẫn đến RLTĐ. Thay đổi thời tiết, rối loạn nội tiết tuổi tiền mãn kinh, người cao tuổi có bệnh lý tăng huyết áp, vữa xơ động mạch… cũng là những yếu tố nguy cơ mắc phải hội chứng này. 

Điều trị bệnh rối loạn tiền đình thế nào? 

Rối loạn tiền đình là một hội chứng, không phải là một bệnh lý nên không có thuốc điều trị đặc hiệu. Cần phải tìm nguyên nhân gây ra hội chứng này để điều trị căn nguyên. Trong mọi trường hợp, khi xảy ra chóng mặt cấp tính, triệu chứng hay gặp của hội chứng tiền đình cần phải điều trị triệu chứng vì cho dù các cơn chóng mặt có thể tự khỏi nhưng bệnh nhân rất khó chịu và sợ hãi vì các triệu chứng này. 

Dùng thuốc: Việc sử dụng thuốc phải được tư vấn của các bác sĩ lâm sàng. Một số thuốc sau đây đã được đánh giá tốt như: các thuốc thuộc nhóm kháng histamin như: promethazine, dimenhydrinate, scopolamine… Các thuốc này làm giảm ngay triệu chứng chóng mặt, chống nôn nhưng tác dụng phụ là buồn ngủ ngây ngất. 

Có thể dùng thuốc làm giảm chóng mặt, buồn nôn như acetylleucin. Nhóm thuốc ức chế calci: cinnarizin, flunarizin; nhóm benzodiazepines (diazepam): làm giảm lo lắng, an thần. Ngoài ra, cần điều trị hỗ trợ, tăng tuần hoàn não: (gingkor giloba, piracetam…). 


Dự phòng cơn chóng mặt kịch phát: Tránh những tư thế gây chóng mặt, uống đủ nước mỗi ngày, tránh dùng những thức ăn - uống ngọt quá hay mặn quá sẽ làm tăng thể tích dịch của cơ thể và tai trong, vì khi có sự thay đổi về thể tích dịch trong thành phần của tai trong (tăng hay giảm) có thể gây khởi phát cơn chóng mặt. Tránh uống cafe hay thức uống có cồn vì sẽ làm ù tai nặng hơn, gây lợi tiểu mất nước. 

Tránh những loại thực phẩm có chứa acid amin tyramine vì có thể gây khởi phát bệnh Migraine (thể nhức đầu kèm chóng mặt) như: rượu vang đỏ, gan gà, thịt xông khói, sữa chua, chocolate, chuối, cam, quýt, sung, phô mai, các loại hạt... 

Tránh một số thuốc có thể làm nặng thêm các triệu chứng rối loạn tiền đình như: aspirin làm ù tai nhiều hơn, steroids gây giữ nước làm rối loạn điện giải; chất nicotin trong thuốc lá gây biến chứng vữa xơ hẹp mạch máu, làm tăng huyết áp, giảm máu đến vùng tai trong. 

Không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi máy tính; tránh quay cổ hoặc đứng lên, ngồi xuống quá nhanh; tránh leo trèo cao, tránh đọc sách báo khi đang ngồi xe; tránh căng thẳng, lo âu, hoảng hốt... thái quá; nên ngồi hoặc nằm ngay khi cảm thấy chóng mặt. 

Hợp tác tốt với thầy thuốc để được điều trị tốt: Mặc dù chóng mặt ít khi là triệu chứng của bệnh lý trầm trọng, nhưng nếu thấy xuất hiện một trong những triệu chứng sau đây thì nên đến gặp bác sĩ ngay để được khám và xác định nguyên nhân: chóng mặt kèm đau đầu đột ngột; mờ mắt, nhìn không rõ sự vật, nhìn đôi, mất thị lực, giảm thính giác, mất định hướng thời gian, không gian, nói khó khăn, chóng mặt, lảo đảo, muốn té... đau tức ngực, nhịp tim bất thường. 

Các triệu chứng đó có thể là báo hiệu cho những bệnh lý nặng như: u não, đột qu ỵ não, bệnh Parkinson, bệnh tim mạch, bệnh đa xơ cứng. 

Điều trị RLTĐ ngày nay chủ yếu là điều trị nội khoa và hoàn toàn phải do bác sĩ chỉ định về chế độ thuốc men và thời gian dùng thuốc. Tuyệt đối người bệnh không được tự ý điều trị hoặc điều trị không tuân thủ chế độ y lệnh của bác sĩ. 


PGS.TS. Nguyễn Hoàng Ngọc
Click đọc ngay…

Ăn vô độ, khi nào gọi là bệnh?

14:30 |
Nhiều bậc cha mẹ thấy con ở tuổi dậy thì ăn nhiều thì cho là bình thường vì nghĩ con đang tuổi ăn, tuổi lớn. Thế nhưng cha mẹ cũng phải cẩn trọng vì nếu việc ăn uống của con nhiều đến mức khó kiểm soát thì rất có thể trẻ đã mắc phải một chứng bệnh mà trong chuyên ngành tâm thần gọi là chứng ăn vô độ tâm thần. 

H. là một sinh viên đại học năm thứ hai, đã từ hai năm nay, H. thường ăn nhiều, ăn không biết no, lúc đầu gia đình nghĩ H. đang ở tuổi ăn tuổi lớn, không cho đó là bệnh nhưng sau đó chứng ăn nhiều ngày càng tăng, có lúc ăn xong no quá lại móc họng ra nôn. 

Có những lúc không kiềm chế được, H. ăn cắp cả tiền để đi mua đồ ăn, thậm chí lấy cả đồ cúng trên bàn thờ để ăn. Đặc biệt, bệnh tăng lên khi H. gặp chuyện căng thẳng, lo lắng. Bác sĩ đã chẩn đoán H. mắc chứng ăn vô độ tâm thần, một dạng rối loạn ăn uống. 


Ăn vô độ tâm thần là gì? 

Đây là một chứng rối loạn ăn uống có thể gặp ở cả nam và nữ nhưng thường thấy ở nữ nhiều hơn, đặc biệt là lứa tuổi dậy thì. Bệnh đặc trưng bởi những giai đoạn ăn uống vô độ sau đó là giai đoạn nỗ lực một cách điên rồ để giảm cân nặng. 

Khi mắc chứng ăn vô độ tâm thần, cuộc sống của người bệnh sẽ là những trận chiến giữa mong muốn giảm cân và xung đột ăn uống một cách cưỡng bức. Có những giai đoạn người bệnh không muốn ăn vô độ và họ tự cảm thấy tội lỗi, xấu hổ, nhưng rồi họ lại rơi vào giai đoạn ăn vô độ. 

Sau đó người bệnh rất hoảng hốt, sợ hãi và tìm mọi biện pháp để loại bỏ thức ăn ra khỏi cơ thể như là dùng thuốc nhuận tràng, tìm mọi cách để nôn ra hoặc có thể chạy bộ đến tận 10km. Càng ngày người bệnh càng cảm thấy không thể kiểm soát được tình trạng ăn uống của mình. 

Biểu hiện của chứng ăn vô độ tâm thần 

Thiếu sự kiểm soát ăn uống: không thể dừng lại việc ăn uống. Ăn đến mức mà cơ thể cảm thấy khó chịu, ậm ạch và đau bụng. 

Giấu kín việc ăn uống của mình: bệnh nhân vào bếp ăn uống khi tất cả mọi người đã đi ngủ, đi mua đồ ăn một cách thất thường không theo quy luật nào và thường thích ăn ở một chỗ riêng không ai nhìn thấy mình đang ăn. 

Ăn một lượng thức ăn lớn bất thường. Người nhà thường thấy sự biến mất một cách bất thường của thức ăn, rất nhiều hộp đựng thức ăn trở nên trống rỗng hoặc cất giấu những thức ăn để sử dụng dần. Thay đổi giữa những giai đoạn ăn vô độ và giai đoạn không ăn gì. 

Những biểu hiện người bệnh loại thức ăn ra khỏi cơ thể: 

Thường xuyên đi vào nhà vệ sinh sau bữa ăn: mọi người thường thấy bệnh nhân biến mất thường xuyên sau bữa ăn để nôn, thường xuyên nghe thấy tiếng nôn ọe ở nhà vệ sinh. 

Sử dụng thuốc nhuận tràng, thuốc lợi tiểu và/hoặc thuốc thụt đại tràng sau khi ăn hoặc cũng có thể dùng thuốc giảm béo để giảm sự ngon miệng hoặc xông hơi để ra mồ hôi nhằm giảm béo. 

Phòng vệ sinh hoặc người của người bệnh thấy có mùi của chất nôn: Bệnh nhân thường cố làm mất mùi đó đi bằng cách sử dụng nước hoa, nước súc miệng, kẹo cao su hoặc nước thơm để át mùi đi. 

Tập luyện thể dục quá mức: vận động một cách quá mức sau khi ăn, đặc biệt là có những vận động với cường độ mạnh, tiêu hao nhiều calo như tập aerobic hoặc chạy. 


Dấu tích của chứng ăn vô độ tâm thần 

Sẹo ở vị trí khớp nối giữa ngón tay và bàn tay do thường xuyên thò tay vào miệng để móc họng, tạo ra kích thích nôn. Những vết đỏ nhỏ ở má do tình trạng nôn cứ lặp đi lặp lại nhiều lần. 

Răng biến đổi màu sắc do tiếp xúc nhiều với acid ở dạ dày khi nôn ra. Nhìn răng có thể có màu vàng, có những đường viền trên răng. 

Bệnh nhân không giảm cân: người bệnh thường không giảm cân hoặc tăng cân nhẹ. 

Thường dao động về cân nặng: cân nặng có thể dao động giữa những lúc ăn vô độ và những lúc loại bỏ thức ăn khỏi cơ thể. 

Nguyên nhân của ăn vô độ tâm thần 

Không có một nguyên nhân đơn độc gây chứng ăn vô độ tâm thần nhưng yếu tố chính đóng vai trò trong ăn vô độ tâm thần là mất tự tin, bận tâm quá mức về cân nặng và hình dáng cơ thể mình. Ngoài ra còn có những yếu tố khác như người bệnh thường có những vấn đề về cảm xúc (trầm cảm, dễ tức giận, stress, lo âu...). 

Một điều cần khẳng định, ăn vô độ tâm thần là một vấn đề phức hợp về cảm xúc. 

Những nguyên nhân chính và yếu tố nguy cơ của chứng bệnh này: 

Hình ảnh cơ thể xấu xí: mọi người cho rằng cơ thể mảnh mai, đẹp mới hấp dẫn, đặc biệt là những cháu gái trẻ chịu ảnh hưởng của những hình ảnh trên tivi, tạp chí thời trang. 

Mất tự tin: nghĩ rằng mình vô dụng, mất giá trị không hấp dẫn là những yếu tố nguy cơ cho ăn vô độ tâm thần. Những yếu tố có thể dẫn đến sự đánh giá kém bản thân như trầm cảm, chủ nghĩa lý tưởng hóa, bị lạm dụng khi còn nhỏ, môi trường gia đình không tốt. 

Tiền sử bị lạm dụng về tình dục hoặc sang chấn tâm lý: những trẻ gái mắc chứng ăn vô độ tâm thần thường có thể bị lạm dụng tình dục hoặc có bố mẹ sử dụng các chất kích thích hay những rối loạn về tâm lý. 

Có những thay đổi lớn trong cuộc sống: chứng ăn vô độ tâm thần thường phát sinh sau những stress căng thẳng hoặc một sự thay đổi lớn, ví dụ như sự thay đổi cơ thể trong thời kỳ dậy thì, đi học ở trường đại học hoặc do chia tay bạn bè, chứng ăn vô độ tâm thần có thể là một cách giải quyết tiêu cực khi đối diện với stress. 

Một số nghề nghiệp nhất định có thể làm phát sinh chứng ăn vô độ tâm thần ví dụ như múa ballet, người mẫu, diễn viên... 


BS. Trịnh Thị Bích Huyền
(Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia)
Click đọc ngay…

Đau đầu khi tập thể dục, nguyên nhân và giải pháp

09:00 |
Tập thể hình (tập gym) là để tăng cường sức khỏe, vậy mà không ít trường hợp bị đau đầu trong hoặc sau khi tập thể hình, khiến trạng thái tinh thần họ thêm căng thẳng, lo sợ. Hội chứng đau đầu khi tập thể hình cần được hiểu đúng và có biện pháp phòng ngừa để không ảnh hưởng xấu cho sức khỏe. 

Biểu hiện đa dạng của đau đầu khi tập luyện 

Triệu chứng đau đầu trong hoặc sau khi tập thể hình có biểu hiện đa dạng như: khi đang tập thì bị đau khắp vùng đầu nửa trên, bị đau nhói từ đoạn sau gáy chạy lên thẳng đỉnh đầu, đau kiểu giật giật theo nhịp của tim đập, ngồi nghỉ 5 phút đỡ dần nhưng tập lại đau hoặc chỉ đau nửa đầu bên trái. 


Tập thể hình cũng như các hình thức tập luyện khác mang lại nhiều lợi ích cho cơ thể. Về cơ bản, thể dục giúp giảm tần suất và cường độ đau đầu nhờ việc giải phóng endorphin và tăng cường lượng máu lưu thông trên não. Tập luyện đều đặn còn tăng chất lượng giấc ngủ và giảm stress - đây là những yếu tố cơ bản cho một trí tuệ sảng khoái và minh mẫn, nâng cao hiệu suất làm việc. 

Việc đau đầu khi tập thể hình có thể do nhiều nguyên nhân như: tăng lượng máu và ứ trệ máu ở não, tăng CO2 trong máu, tăng acid lactic trong máu, căng cơ ở vùng đầu mặt nhiều, mạch tăng quá nhanh...Trước hết, các bạn cần biết về hai loại đau đầu khi tập luyện: 

Đau đầu tiên phát: Thường ít nguy hiểm, nguyên nhân trực tiếp do vận động quá sức. Thường chỉ kéo dài trong 5 phút đến tối đa là 2 ngày. 

Đau đầu thứ phát: Rất nguy hiểm, bởi do ảnh hưởng của nguyên nhân bệnh lý khác như: chảy máu, u,... Biểu hiện: giảm thị lực, nhìn mờ, chóng mặt, lơ mơ, mất ý thức, cổ cứng, trạng thái đau kéo dài rất lâu... Đau đầu thứ phát cần được khám và chữa trị khẩn cấp. 

Hội chứng đau đầu khi tập luyện gắng sức có nguy hiểm không? 

Đối với những bệnh nhân của chứng đau đầu khi tập luyện gắng sức cần chụp cộng hưởng từ để loại bỏ dị thường, thương tích và xuất huyết vỏ não. 

Để xác định nguyên nhân gây đau đầu khi tập thể hình, bước đầu tiên là nhờ sự tư vấn của bác sĩ để tìm ra các bệnh lý. Nếu không phải, hãy chú ý đến chế độ dinh dưỡng của bạn. Bạn có ăn hay uống trước buổi tập để tăng lượng đường trong máu hay tránh tình trạng mất nước không? 

Sau khi loại trừ các nguyên nhân trên thì nhiều khả năng nguyên nhân thực tại đa phần chứng đau đầu khi tập thể hình đều do đau đầu tiên phát, tập luyện quá sức, tập các bài tập không phù hợp thể lực hoặc do giáo án tập luyện quá nặng, gây áp lực cho chính người tập... 

Chứng đau đầu do tập luyện gắng sức thường xảy ra trong hoặc sau khi tập những động tác đòi hỏi sử dụng sức lực rất lớn từ nhiều cơ bắp như: tập tạ nặng, hít xà, nâng đẩy... thực hiện động tác khi gần đến ngưỡng thất bại hoặc thất bại. Cơn đau thường xuất hiện ở vùng não phía sau đầu. 

Điều này có thể hiểu như sau: khi tập luyện gắng sức quá độ, nhịp tim sẽ rất nhanh, đi cùng với đó là huyết áp tăng. Các mạch máu trong não bị giãn nở hơn mức bình thường và gây áp lực lên màng não, vỏ não, tạo nên các cơn đau đầu. Khi nghỉ ngơi, nhịp tim và huyết áp giảm làm cơn đau giảm theo, nhưng vẫn còn đau âm ỉ do não rất nhạy cảm. 

Nếu bạn lại tiếp tục tập luyện ngay sau đó, cơn đau sẽ lại ập đến và có thể nặng hơn. Cũng có trường hợp đau đầu không phải do tập quá sức mà nguyên nhân chính là việc hít thở quá nhanh dẫn đến co thắt mạch máu - là nguyên nhân gây sự phản ứng giãn nở của mạch máu và kết quả là các cơn đau tiền đình. Loại đau đầu này đặc trưng bởi các cơn đau dữ dội ở một bên đầu và kéo dài từ 4 đến 6 giờ. Thêm vào đó, chứng này thường xuất hiện sau các hoạt động ưa khí và tần suất sẽ cao hơn nữa khi thời tiết nóng. 


Chứng đau đầu khi tập luyện gắng sức còn có thể bị cộng hưởng bởi các yếu tố như: 

Cổ đang ở tư thế không thuận lợi: điều này dễ xảy ra ở các trường hợp bị đau khi đang thực hiện động tác hít xà, cổ ngửa ra sau quá nhiều, dẫn đến chèn ép động mạch máu lên não, kết hợp với những động tác gắng sức quá nên cơn đau xuất hiện. 

Cơ thể bị thiếu nước khi tập luyện: làm máu đặc hơn, lưu thông kém hơn, máu khó đưa lên não nên dễ gây ra các cơn đau đầu. 

Giữ hơi quá lâu khi tập: như ở động tác đẩy ngực, bạn để tạ đi xuống, hít vào và bắt đầu giữ hơi từ điểm thấp nhất của tạ. Khi đẩy tạ lên đến điểm cao nhất mới bắt đầu thở ra. Đây gọi là giữ hơi, khi giữ hơi lâu dễ làm huyết áp tăng đột biến gây đau đầu. Đặc biệt, huyết áp tăng vọt sẽ rất nguy hiểm cho sức khỏe, nên khi tập thể hình mọi người cần lưu ý điều chỉnh trạng thái cơ thể cho phù hợp. 

Tập luyện ở nơi nóng bức, không thoáng khí, thiếu ôxy, ẩm thấp: cũng là một nguyên nhân thúc đẩy hội chứng đau đầu do các hoạt động thể chất. 

Cách phòng tránh cơn đau đầu khi tập luyện 

Khi bị đau đầu do tập luyện, dù nguyên nhân nào đi nữa, điều đó cũng cho thấy cách tập hiện giờ của bạn là không đúng và không an toàn. Bạn nên kiểm tra sức khỏe tổng quát trước khi tập để đảm bảo mình hoàn toàn khỏe mạnh để chịu được môn thể thao gắng sức và tìm đến một huấn luyện viên thể hình hướng dẫn bạn các bước tập ban đầu, phù hợp với sức khỏe của bạn. 

Tập luyện với tư thế chuẩn, kể cả chi tiết nhỏ nhất. Đây cũng là lý do vì sao khi tập tạ hay hít xà không nên để đầu ngẩng lên quá cao. Không để nhịp tim tăng nhanh đột biến và vượt quá mức mình có thể cảm nhận được là an toàn. Luôn uống đủ nước khi tập luyện, ngủ đủ giấc, ăn uống đủ chất. Đừng quên cả việc uống nước trong cả ngày, tuyệt đối không để cảm thấy khát. 

Không giữ hơi khi tập: co cơ thì thở ra, giãn cơ thì hít vào. Nên tập các bài tập có tác dụng tăng sức khỏe cho hệ tim mạch. Không lao vào tập gắng sức liên miên mà nên đan xen các khoảng nghỉ. Nguyên tắc là chỉ tập hiệp tiếp theo khi nhịp tim, hơi thở và huyết áp đã trở lại ổn định. 

Tập luyện ở những nơi thoáng khí, cố gắng ra ngoài hít thở thật nhiều ôxy nếu bạn đang phải tập ở nơi thiếu ôxy. Nếu ngày hôm đó tập luyện mà bạn bị cơn đau đầu do gắng sức hãy dừng việc tập luyện ngay lập tức và nghỉ ngơi trong ít nhất 1 tuần. Việc vội vàng lao vào tập luyện có thể làm các cơn đau đầu trầm trọng thêm. Nên đi khám bác sĩ ngay nếu thấy các dấu hiệu đau ngày một tăng dần. 


BS. Nguyễn Đức Hùng
Click đọc ngay…